Thu09022012

Back Tin tức Sự kiện bình luận TRƯỜNG SƠN TRONG CẶP VẼ

TRƯỜNG SƠN TRONG CẶP VẼ

một người lính một người làm văn nghệ của đường Trường Sơn năm xưa về việc được mời tham dự hội thảo có ý nghĩa này nhân kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Trường Sơn – Hồ Chí Minh. Bao kỷ niệm về những tháng ngày sống và vẽ không thể nào quên ở Trường Sơn lại sống dậy trong tôi.

 

Tôi nhớ sau chuyến đi vẽ binh trạm số 9 đường ống, anh Nguyễn Thảo, hoạ sĩ Trường Sơn không còn cầm bút, cầm súng. Anh hy sinh trên xe chở hàng tuyên huấn vào binh trạm 42 miền tay Huế. Mười trang ký hoạ trong cặp vẽ tôi, anh gửi về hậu cứ triển lãm lúc chia tay ở ven suối ướt đầm. Con lũ cuốn đi ba lô, cặp vẽ lúc qua suối, may cậu lái xe lao ra vớt hộ. Ngồi phơi áo, phơi tranh trên tảng đá khô, tôi thương anh! Nét vẽ bằng que, xao xác bay lượn, điểm màu tươi rói như máu ứa!

 

Đầu ănm 1969, năm tháng sôi sục chiến tranh, trên chiếc xe Binh trạm 8 (thành phố Vinh) chạy dọc miền Trung, tôi trở thành họa sĩ Bộ tư lệnh Trường Sơn, sống, vẽ nhiều tháng năm trên miền rừng núi đạn bom, thời trai trẻ đời sống nghệ thuật bản thân mình.

 

Những chuyến đi say mê, đạn bom, thiếu thốn đời lính chiến nghệ sĩ. Đường Trường Sơn hàng ngàn km dọc ngang, miền địa hình trên ba nước Đông dương. Người hoạ sĩ thời khói lửa, máu “giang hồ” dọc ngang thoả sức, tình yêu nghệ thuật tuổi 20 sôi nổi.

 

Con đường vận tải đêm đêm rì rầm xe chạy. Trạm giao liên, quân y yên tĩnh dưới vòm lá nguyên sinh. Phòng tuyên huấn Cục chính trị có tôi, Đức Dụ, Vĩnh Phúc vẽ nhiều trọng điểm ác liệt từ km 68 đường 20 tới Talê, Phu na nhíc, Tha mé, Tà Khống, vào cao nguyên Bô Phiên, ngã ba biên giới, Xê Ka Mán… miền đất có dòng sông êm đềm lượn quanh bản làng tươi đẹp nay sơ tán vào hang. Con suối rừng tung bọt thác trắng xoá.

 

Căn hầm dưới lòng đất. Xác xe cháy cong queo dưới vực, con thú rừng dính bom chết trong bụi rậm. Kỉ niệm không bao giờ quên đêm trăng sáng sân bay cũ Chà Vằn, đạn 20mm giặc Mỹ găm vào cặp vẽ, suýt chết trên con đường vươn tới phía nam.

 

Tôi từng vẽ hang đá, chiếc cầu treo lung lay vắt qua vực thẳm. Em gái Việt kiều Căm Pu Chia xinh tươi may áo chiến sĩ, người dân Lào Thưng rời làng mở đường, bãi khách đầy tăng, võng râm ran tiếng cười.

 

Những binh trạm đói giữa mùa mưa, đường tắc, cơn sốt rét run người trong căn hầm cũng rung theo loạt bon rải thảm. Ngày tháng gian khổ dựng nhà, hành quân vượt đèo dốc lùi về kỷ niệm, lúc mặt trước chúng tôi lèn đá mùa khô mát mẻ, con sông trong veo, lán giao liên, bãi trú quân thấp thoáng giữa sương rừng mơ mộng.

 

Thân Săng lẻ nhảy nhót đốm nắng như trong điêu khắc hiện đại. Rừng lá Khộp gần gũi, lạ lùng dễ lạc. Tôi từng sống, vẽ ở bản dân A lắc treo trên cao nguyên hùng tráng, tiếng chuông đồng lẫn tiếng chày giã nước đêm, nghe sâu như tiếng thở của rừng vậy.

 

Trường Sơn hoang dại, nguyên sinh, lúc ầm ầm dữ dội. Bao cảnh uy nghiêm thâm trầm rừng thẳm, ghê rợn trong điểm lở loét bom thù, đường vận tải như ruột thú cào xé, cây rừng cháy thui, man rợ…

 

Trong ngút ngàn cây xanh, mùa mưa, con lũ trôi băng băng, chia cắt mọi địa hình binh trạm, tiểu đoàn quân. Lợn rừng, chuột rừng, muỗi vắt vây quanh. Con nước bịt lối về, dòng sông sục sôi bọt ngầu dữ tợn cuốn xoáy giữa cây và đá mấy tháng ròng, áo quần không lúc nào khô. Ngồi ngắm hoàng hôn đỉnh núi bên người lính công binh nhiều năm xa nhà, nỗi nhớ trong buồn thương trào trong khoé mắt, tháng ngày chiến tranh đằng đẵng, biền biệt ra đi.

 

Tôi ở lại binh trạm 35 mùa mưa, hàng nghìn lính ăn sắn, rau rừng. Mặt trận R (hạ Lào) chỉ có “Ruốc” mặn vẫn kiên cường bám chốt, bảo vệ con đường. Binh trạm 37 đất Cam Pu Chia, ông cán bộ Đức Phương đóng vai chủ hàng mua gạo, xăng chuyển vào nam đánh giặc. Ngày tháng sống và vẽ ở thị xã Stung treng, Pravihia trên đất bạn tràn đầy tình cảm.

 

Tôi đi cùng đoàn văn công tỉnh miền Bắc, văn nghệ xung kích binh trạm, văn công Trường Sơn vào A Sầu, A Lưới, ngã ba Đông Dương gặp tiểu đoàn nữ gùi thồ kham khổ Quảng Nam, đi trên “tiểu đội xe không kính” chở đạn, xăng dầu. Hàng vạn tấn gạo phủ ni lông hay lộ thiên giữa rừng mùa khô. Hoạt động ở Trường Sơn phong phú, bền bỉ, can trường…

 

Bao kỷ niệm máu xương, gian khổ, dữ dội hào hùng giữa trận đánh, mùa tổng công kích chiến dịch, người hoạ sĩ như có men rượu, mùa chiến đấu tiếp theo lại bắt đầu…

 

Rồi những dòng sông phẳng lặng. Bản nhỏ yên tĩnh thấp thoáng bóng cô gái người Co, Vân Kiều, A Lắc… thành nỗi nhớ, tình yêu vùng rừng núi chiến trận giữa bán đảo gắn bó thời trai trẻ thế hệ lên đường đánh Mỹ.

 

Không nhớ hết hoạ sĩ Trường Sơn bao lần bầy tác phẩm trong hang đá, trên cổng trời, giữa vùng cây cháy ngổn ngang, dọc đường giao liên hay đơn giản hai cánh tay giơ cao bên đường quân đi, xe chạy trước giờ vào trận.

 

Mùa khô 1972, trong khu rừng yên tĩnh, chúng tôi bày phòng tranh đón chào Đại hội mừng công đoàn chiến trường. Hơn 100 tác phẩm sơn dầu, màu nước, chì than, que tre trên đủ loại giấy vẽ, giấy lót hòm mìn công binh, bạt xe cháy sót. Có tranh vẽ bằng đất núi Xê Công, Tha Méc, địa danh bất tử của chiến trường.

 

Giữa rừng sâu nguyên thủy, vực thẳm hoang sơ là ánh đèn nê-on rực rỡ, khung tranh có giấy kính trang trọng đẹp mắt. Chúng tôi gặp nơi đây nỗi bất ngờ cảm động người lính 10 năm xa đường nhựa và ánh điện, niềm vui người cán bộ già “chuyên viên của rừng” ký gửi đời mình ở Việt Bắc và Trường Sơn. Họ ghi dòng chữ cảm tưởng xúc động, những con người là nhân vật, nội dung trang phác thảo. Bức tranh “Lòng dân A Lắc”, “Giữa hai trận đánh”, “Trọng điểm Văng Mu”, “Bản mới giải phóng” rất công phu. Cán bộ, chiến sĩ mọi trận tuyến từ sôi động tới thầm lặng về xem đông vui.

 

Chiến tranh thay đổi núi rừng, sau loạt bom tấn, bom phá, bom từ trường, chiến sĩ đắp thêm ngầm, mở thêm đường mới. Khu đóng quân di chuyển, bản làng cũng chuyển theo. Dòng suối, dòng sông vận tải vang tiếng mìn cải tạo! Mưa lũ vẽ lại bộ mặt cánh rừng, ngỡ ngàng với chiến sĩ giao liên nhiều năm dẫn khách…

 

Chiến tranh đã lùi xa, sẽ chẳng bao giờ còn thấy căn hầm dã chiến uy nghiêm dưới trời đêm xe xuất kích. Vầng trăng ngầm Tà Khống đêm pháo sáng địch thắp đầy trời Đường Chín. Con đường mòn cheo leo vắt qua mỏm đá nghìn bậc quân đi. Trường Sơn bây giờ là đại lộ, nhiều thị trấn mọc lên, cuộc sống thanh bình, lao động. Vùng đạn bom xưa trả lại cho thiên nhiên nghìn năm như vốn có.

 

Trong hàng nghìn trang ký hoạ mê say của chúng tôi còn y nguyên bộ mặt chiến tranh thời chống Mỹ. Chân dung con đường, dòng suối, căn hầm tới khuôn mặt bạn bè trẻ trung lúc vào trận. Những chiến sĩ vô danh vĩnh viễn nằm lại giữa rừng hoặc chuyển về Nghĩa trang Trường Sơn, lúc chúng tôi vẽ về đề tài mới của tình yêu, xây dựng. Sẽ chẳng bao giờ quên, bao giờ hết nhớ, trong tâm trí mình đề tài con đường chiến trận, vùng rừng núi chạy dọc phía tây Tổ quốc.

 

Chẳng bao giờ quên phòng tranh giữa rừng già hoang dại, nơi tôi đến với nghệ thuật bằng tình yêu vụng về tuổi trẻ, bộ quần áo xanh bền bỉ trộn màu bùn đất. Còn nhớ vẽ về quá khứ huy hoàng Trường Sơn, sáng tác phẩm yêu mến của đời mình.

 

“Con đường mòn Hồ Chí Minh” - con đường đến với nghệ thuật, con đường xuyên bán đảo xưa nguyên vẹn trước mặt chúng tôi, sống động, rực rỡ…

 

Thay lời kết, tôi xin đọc tặng hội thảo một bài thơ của nhà thơ Phạm Tiến Duật, nhà thơ lớn của Trường Sơn thân yêu viết tặng tôi năm 1974, giai đoạn hết sức khốc liệt của chiến tranh, của đường Trường Sơn. Đó là sau những ngày tháng chúng tôi cùng công tác ở Cục Chính trị Bộ tư lệnh Trường Sơn, tôi được trở ra Hà Nội học Mỹ thuật. Trong một đêm thức trắng với nhau trước lúc chia tay, một đêm Gio An (Quảng Trị) đầy lửa đạn, giữa cánh rừng cỏ tranh hoang vu, ánh tăng nhợt nhạt mờ tỏ trên bầu trời, Phạm Tiến Duật đã viết vào số tay của tôi một bài thơ đầy những suy nghĩ trăn trở sâu sắc về nghệ thuật, về sứ mệnh của người nghệ sĩ công dân trong cuộc chiến đấu vì đọc lập tự do và thống nhất đất nước.

 

 

 

 

 

 

 

“VIẾT PHÓNG BÚT TRƯỚC MỘT LẦN TẠM BIỆT”

 

 

 

Phạm Tiến Duật

 

 

 

1

 

Mai xa nhau mà đêm đã khuya rồi

 

Đèn điện tắt, đèn dầu thì tối quá

 

Tôi mở giấy – và, thật là kỳ lạ

 

Châu chấu, cào cào nhảy quanh bóng đèn, bỏ trên bàn,

 

và trên trang giấy trắng tinh

 

Loài côn trùng nhắc rằng xung quanh tôi là đồi cỏ tranh.

 

Thiên nhiên ở cùng người như ái ân dẫu rằng hoang dã.

 

Con cào cào đang bò kia kìa, áo xanh áo đỏ;

 

Cái màu huyền thoại,

 

Màu áo cô Tấm đi hội,

 

Cái màu thẫn thờ của tuổi chớm yêu nhau…

 

Giữa vườn hoang bắt một chú cào cào

 

Cào cào có giã gạo đâu,

 

Chỉ có hai trái tim gái trai đập như là chày thúc.

 

Cào cào bay. Ôi đồng bằng đông đúc

 

Có nhớ chăng giặc châu chấu, chuyện xa xưa

 

Châu chấu bay đen trời như một cơn mưa…

 

Có nhớ chăng trận lụt năm xưa

 

Đồng bằng ngập. Châu chấu cào cào bay vào

 

thành phố

 

Nhưng đời tiếp đời, cây lúa vẫn lên xanh

 

Con cào cào vẫn áo đỏ áo xanh

 

Lại bay vào lới la lới lơ

 

Mấy câu hát nhởn nhơ trêu ghẹo.

 

Cuộc đời rất nghiêm trang mà lại như đùa

 

Mà lại như trêu

 

Mà lại như yêu

 

Thiên nhiên cũng hiền lành

 

Nhưng mà cũng thật là khắc nghiệt.

 

Như mặc kệ cõi sinh cõi diệt,

 

Như mặc kệ sự hữu hạn với vô cùng,

 

Như mặc kệ những biến thiên vô thuỷ vô chung,

 

Nhân dân cứ đường hoàng tồn tại.

 

Sự sửng sốt sẽ còn điệp lại

 

Về sự khổng lồ của bộ óc với con tim.

 

Chỉ một cánh cào cào đập trong ánh đèn đêm

 

Đủ để chúng ta yêu cuộc đời biết mấy

 

Anh vẽ, tôi làm thơ, bắt đầu từ nghĩa ấy

 

Thì một lần xa nhau, đáng kể chi mà

 

Ừ, sáng mai hai đứa đã xa

 

Cái bàn này để trống trơ

 

Mấy con vật quáng đèn cũng bay đi hết

 

Như mặc kệ cõi sinh cõi diệt

 

Lau lách chốn này hát gió thiết tha sao.

 

2

 

Đêm khuya rồi, mai ta đã xa nhau

 

Sáu năm ở cùng, trôi qua như thoáng chốc

 

Những năm sống như tên bay, như là lửa bốc

 

Tóc lùa gió trăm đèo

 

Chân dẵm đất trăm nơi

 

Ta đi giữa nghìn người, vạn người

 

Lại có lúc một mình, giữa rừng già nguyên thuỷ

 

Ta lội những dòng sông hoang vu

 

Biết dải đất này rộng dài đến thế

 

Biết mặt trận cũng rộng dài đến thế

 

Lúc thiếu màu, lấy lá cây mà vẽ

 

Mực hết rồi thì viết bằng than

 

Những chuyến ra đi cơn sốt rét chưa tan

 

Bàn chân nóng ran ta đạp lên đất núi

 

Bốn bề xanh; xanh áo, xanh mây, xanh điệp trùng cây cối

 

Ta thiếu gạo, ăn rau: xanh đến tận lòng.

 

Đêm mưa đường 20, bạn có nhớ hay không

 

Ta trú vào căn hầm, bốn bề đất ẩm

 

Áo ta ngùn ngụt bay hơi

 

Vì lẽ ấy cho nên lòng đất ẩm.

 

Rồi bom phá, bom bi nổ mau nổ chậm.

 

Thơ vẫn thẳng dòng và tranh vẫn lên màu…

 

Sáu năm trôi qua, và nay lại xa nhau

 

Có thể nói câu này trước khi tạm biệt

 

Con đường đã đi qua, chẳng có gì hối tiếc

 

Ta chọn đúng thời gian, lại chọn đúng con đường

 

Tôi không nói hạnh phúc chỉ là ở chiến trường

 

Nhưng tôi bảo đấy là nơi cần thiết

 

Ta nhớ mãi những khuôn mặt người rất đẹp

 

Ánh sáng những khuôn mặt người thắp sáng trái tim đây

 

Và ánh sáng những khuôn mặt người lại chảy sáng

 

ở đầu tay

 

Đó của báu ta lấy từ đỉnh núi

 

Hãy cháy sáng suốt đời ta

 

Thắp sáng như đèn trên đầu bút lông chói lọi.

 

Mai xa nhau mà đêm đã khuya

 

Tôi muốn viết một trăm dòng, nghìn dòng

 

Nhưng có cần chi, ta đã hiểu nhau đến thế

 

Thôi đi đi! Luôn sẵn sàng giá vẽ

 

Vì Đất nước thân yêu, vì triệu triệu con người

 

Ra đi, đã hẳn là đi tới

 

Trở về đâu phải trở về lui