Từ mùa xuân Nhâm Ngọ 1942 đến mùa xuân Kỷ Dậu 1969, xuân nào Bác Hồ cũng có thơ chúc Tết đồng bào chiến sĩ cả nước. Mộc mạc nôm na, thơ chúc Tết của Bác chứa đựng những tình cảm yêu thương mênh mông, sâu lắng với dân với nước, niềm tin về sự tất thắng của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, nhiều khi là những dự cảm tiên tri của một lãnh tụ thiên tài về vận nước về thời cơ của cách mạng.
Đặc biệt, bài thơ chúc tết xuân Mậu Thân 1968 với câu kết “Tiến lên toàn thắng ắt về ta” đã trở thành hiệu lệnh nổ súng mở đầu cuộc tổng tiến công nổi dậy lịch sử 40 năm trước đánh vào sào huyệt của Mỹ Nguỵ tại 41 thị xã thành phố miền Nam, tạo bước ngoặt của kháng chiến chống Mỹ, buột đế quốc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán, mở ra thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước vào mùa xuân 1975.
Nhân xuân Mậu Tý, VHVN xin giới thiệu lại b ài viết của nhà thơ lớn Chế Lan Viên về những vần thơ chúc tết, món quà xuân tuyệt vời Bác Hồ dành cho nhân dân ta mỗi mùa xuân mới..
Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Hồ Chủ tịch là người Việt Nam. Việt Nam hơn người
Nam nào hết. Ngót ba mươi năm bôn tẩu bốn phương trời, Người vẫn giữ thuần tuý phong độ,
ngôn ngữ, tính tình của người Việt Nam. Ngay sau khi về nước, gặp Tết, Người không quên
mừng tuổi đồng bào hàng xóm và quà bánh cho trẻ em, tuy chỉ có mấy đồng xu, nhưng cũng bọ
giấy hồng đơn, cẩn thận, tươm tất”.
Những bài thơ chúc tết hàng năm của Bác, cũng là quà mừng tuổi của Người cho nhân
dân ta như vậy. Bọc trong giấy hông đơn là tấm lòng Người. Bác làm thơ đâu chỉ vì tết, đâu chỉ vì thơ. Mà vì những điều lớn hơn. Đấy là vì lòng tôn trọng các truyền thống tốt đẹp của nhân dân, và để kêu gọi nhân dân đi lên con đường cách mạng.
Mấy lời thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi, vừ là mừng xuân.
Bác rất không thích ai tán dương thơ Bác. Có lần Bác đã nói, đại ý: “Bác làm thơ
là để tuyên truyền, có bài được, có bài không, sao bài nào các chú cũng khen hay tất cả?.
“Lão phu nguyên bất ái ngâm thi”. “Ngâm thơ ta vốn không ham”. Cái ham, cái “ham muốn tột bậc” của Bác đâu phải là thơ, mà là hạnh phúc cho nhân dân, độc lập, thống nhất cho Tổ quốc. Vì thế, hôm nay tôi muốn đứng về phía ấy để nói về những bài thơ chúc Tết của Người.
Trở lại với ý trên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, xin mời các bạn đọc một đôi bài thơ, đoạn văn Bác từng viết lúc bôn ba nơi hải ngoại. Những bài thơ bằng chữ Hán, trong nhà lao
Tưởng Giới Thạch:
Mai khôi hoa khai, hoa hựu tạ
Hoa khai hoa tạ lưỡng vô tình
Hoa hương thâu nhập lung môn lý
Hương tại lung nhân tố bất bình.
Hay như bài
Ngục trung cựu phạm nghênh tân phạm
Thiên thượng tình vân trục vũ vân
Tình, vũ phù vân phi khứ liễu
Ngục trung lưu trú tự do nhân
Thật là thơ của muôn đời.
Và đây là một đoạn văn Bác viết hai mươi năm trước đấy nữa, ngày còn ở Pháp. Người bạn của Cu-tuy-riê, Bác-buy-xơ và nữ sĩ Cô-lét đã sử dụng bút pháp hiện đại để nói với Giô-sép Cay-ô, cựu thủ tướng Pháp, nhà lý tài ngoại ngạch, một nhà văn không phải tồi, không phải “tương đối” tồi như En-xtanh nói.
Bác viết: “Này ngài Thủ tướng, xin ngài cho tôi biết chân của châu Âu và của nước Pháp ở chỗ nào, tôi sẽ nói ngài biết châu Âu và nước Pháp đi tới đâu!
Đác - uyn, nhà đại thông thái Đác - uyn, từng biết rằng con ngươi của một con ếch xứ Ô-véc-nhơ tròn hơn con ngươi của một con ếch ở vùng Nốt-tinh-ham và đuôi con chim bồ câu ở Mếch -xích có nhiều hơn đuôi chim bồ câu ở Thuỵ Điển ba cái lông, nhưng ông không hoàn toàn không biết gì đến một loài động vật rất đông đúc và ngày nay ai cũng biết và do số lượng và tính chất của nó, loài động vật này có thể được liệt vào hàng đầu các loài động vật. Loài động vật này đi hai chân. Nhưng theo những tài liệu quan sát được tại nhiều vùng châu Á, thì nhiều khi nó lại trở thành loài đi bốn chân…”
Đấy, đang viết những câu văn như thế, hay đang dõng dạc lên tiếng trên các diễn đàn quốc tế, bỗng dưng vì sao khi về đến nước Bác lại làm:
Mấy lời thành thật nôm na
Vừa là kêu gọi, vừa là mừng xuân.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã giúp ta hiểu thêm Bác, khi thủ tướng viết: “Người hạ mình cho vừa tầm mọi người Việt Nam để nâng đỡ mọi người Việt Nam lên đến tầm Người”.
Thủ tướng cũng lại viết: “Đời sống của Hồ Chủ Tịch là một đời sống khắc khổ, cần lao và tranh đấu. Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không thể có một đời sống khác”.
Chúng ta có thể nghĩ tiếp “Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không thể có một lối viết khác”. Bác không cần văn phượng múa rồng bay. Và nhân dân ta đang đói độc lập, đói cả cơm ăn đâu có cần một thứ văn phun châu nhả ngọc.
Lần giở những bài thơ chúc Tết của Bác từ đầu đến cuối, xiết bao xúc động. Ngay những đầu đề Thơ chúc Tết đầu năm Nhâm Thìn, thơ Mừng Tết Quý Tỵ, thơ chúc Tết Giáp Ngọ đã nói lên Bác quan tâm đến những thói quen gọi tên những năm tháng cổ truyền. Nhưng dần dần Bác đã đưa cách nói mới vào Thơ mừng xuân 1966, mừng xuân 67, mừng xuân 68, mừng xuân 69, lẫn với cả cách hành văn mới nữa; đồng thời với các thể thất ngôn, lục bát, Bác viết (1966):
Mừng miền Nam rực rỡ chiến công
Nhiều Dầu Tiếng, Bầu Bàng, Pơ Lây Me, Đà Nẵng…
Hay (1960)
Mừng Đảng chúng ta ba mươi năm tuổi trẻ
Bài thơ chúc Tết đầu tiên là tự năm nào? Theo chỗ chúng tôi biết, có lẽ đấy là bài Mừng xuân 1942
Tháng ngày thấm thoát chóng như thoi
Năm cũ qua rồi chúc năm mới…
Những bài thơ chúc Tết thực sự xuất hiện, và xuất hiện liên tục là từ những năm kháng
chiến. Và chính vì nhiệm vụ động viên nhân dân kháng chiến mà chúng xuất hiện liên tục. Đây
là bài thơ 1947.
Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió
Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông
Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến
Chí ta đã quyết lòng ta đã đồng
Tiến lên chiến sĩ! Tiến lên đồng bào!
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông
Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi
Thống nhất độc lập, nhất định thành công.
Đừng nghĩ Bác định làm thơ! Bác muốn toàn dân lúc đó người biết chữ, người chưa biết chữ, nhớ lấy đường lối, nhiệm vụ cách mạng, đã được kết tinh cô đúc trong các khẩu hiệu, và Bác ghép các khẩu hiệu lại cho thành một bài văn vần. Người vĩ đại nhất của dân tộc viết ra là muốn cho người ít văn hoá nhất của dân tộc nhớ lấy và làm được. Nhưng thật là kỳ lạ! Sao một người như Bác, đi khắp trời bể năm châu, có khi hàng năm trời không có dịp dùng tiếng mẹ đẻ, mà lúc về lại nắm cái nhịp điệu dân tộc, cái hồn nhạc Việt Nam đến thế!
Chí ta đã quyết, lòng ta đã đồng
Sức ta đã mạnh, người ta đã đông
Những bài thơ kế tiếp theo, không phải bài nào cũng hay cả. Đã nói Bác làm thơ là để kêu gọi mà cốt sao Bác nhắc được chúng ta nhớ các nhiệm vụ cách mạng. Và bây giờ cả đất nước đang tiến hành hoàn thành việc thống nhất nước nhà, chúng ta thấy xúc động biết bao khi thấy suốt liên tục trong mấy chục năm, câu kết mọi bài thơ đều là “thống nhất độc lập nhất định thành công” hoặc “thống nhất nước nhà thắng lợi”. “Hoà bình thống nhất ắt hẳn thành công” hay “Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn”.
Cũng như thế, bây giờ khi bàn về tính liên tục của Nhà nước cách mạng, về ngọn quốc
kỳ, thì hãy nhớ rằng đã hai lần Bác tính tuổi cho cho Nhà nước của chúng ta như tính tuổi một
chàng trai đang sung sức:
Mừng nhà nước ta mười lăm xuân xanh
Mừng Đảng chúng ta ba mươi tuổi trẻ (1960)
Chúc mừng Ất Tỵ xuân năm mới
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi (1965)
Về ngọn “Cờ đỏ sao vàng bay trước gió” thì ngay từ 1942, ba năm trước ngày tổng khởi nghĩa làm Cách mạng tháng Tám. Người đã
Chúc toàn quốc ta trong năm nay
Cờ đỏ sao vàng bay phấp phới
Các hồi ký thụât lại, đi đường xa Bác thường dạy cho cán bộ, chiến sĩ học từng đoạn
Chinh phụ ngâm, Kiều, hoặc Bác bày ra kể chuyện cho quên mệt. Xong một câu chuyện, thuộc
một đoạn Kiều, ta đến nơi lúc nào không biết nữa. Trong một ý nghĩa lớn lao hơn, các bài thơ
Tết của Bác đã có tác dụng với ta như vậy. Bác biết cuộc kháng chiến là trường kỳ, và vô cùng
gian khổ, nên Người tìm hết cách để động viên từng bước chúng ta. Giặc Pháp nói sẽ tiêu diệt
chúng ta vài tuần, nay ta trụ được thêm một năm, thêm nhiều năm, mừng lắm chứ!
1949, đánh được ba năm, Bác viết:
Kháng chiến lại thêm một năm mới
Thi đua yêu nước thêm tiến tới
Động viên lực lượng và tinh thần
Kháng chiến càng thêm mau thắng lợi
1952, đánh được năm năm, nhiều người đã thấy dài, Bác lại vỗ về:
Xuân này kháng chiến đã năm xuân
Nhiều xuân kháng chiến càng gần thành công
1952. Gian khổ chồng chất. Nhưng chỉ còn hai năm nữa là hào quang của Điện Biên
Phủ đấy rồi.
Bác cổ vũ:
Xuân này, xuân năm Thìn
Kháng chiến vừa sáu năm
Trường kỳ và gian khổ
Chắc chắn trăm phần trăm.
Cứ như thế, theo các bài thơ Bác, chúng ta đi từ năm tháng này qua năm tháng khác, từ gian khổ này vượt lên giành thắng lợi kia. Những bài thơ chúc Tết về sau thì không còn chỉ là lời kêu gọi nôm na:
Xuân về xin có một bài ca
Thực sự đó là các bài ca của đất nước.
Xuân 67:
Xuân về xin có một bài ca
Gửi chúc đồng bào cả nước ta
Chống Mỹ hai miền đều đánh giỏi
Tin mừng thắng trận nở như hoa.
Xuân 68:
Xuân này hơn hẳn xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta.
Với câu thơ này, cả dân tộc đã tiến lên, làm nên mùa xuân lịch sử Mậu Thân. Và ngay bây giờ ta vẫn ngỡ như Bác đang đứng trên đỉnh cao của lịch sử để hiệu triệu chúng ta như vậy.
1969. Bài thơ chúc Tết cuối cùng! Sau đó hàng năm đêm giao thừa, ta không còn cái
hạnh phúc nghe giọng ấm cúng của Bác đọc bài thơ mới.
Năm qua thắng lợi vẻ vang.
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì độc lập, vì tự do.
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào!
Tiến lên! Chíên sĩ, đồng bào!
Bắc Nam sum họp, xuân nào vui hơn!
Bài thơ dự đoán những điều ta thấy ngày nay, Mỹ trước, nguỵ sau, đứa cút, đứa nhào!
Bác báo trước không những sự sụp đổ mà cả các bước sụp đổ, các hình thức sụp đổ khác nhau “khá độc đáo” của quân thù. Lê nin không làm thơ và hình như có nói là dù có bị lột da cũng chịu không làm nổi
một câu thơ được. Mác ngày trẻ có làm thơ, nhưng cũng không thực xuất sắc, dù Mác rất là vĩ đại. Do đó, nếu Bác không làm thơ, hay làm mà không hay thì cũng không hại gì tới sự nghiệp cao cả của Người! Nhưng Bác đã làm thơ, và là một hồn thơ lớn. Tôi nhớ lại một cuộc họp ở Pa ri năm 1968, khi bộ trưởng Hoàng Minh Giám trong bài diễn văn của mình đã đọc một bài thơ tứ tuyệt của Bác thì hội trường tri thức Pháp đã vỗ tay và đứng dậy. Hàng trăm Việt kiều và chúng tôi lúc ấy đã ràn rụa nước mắt. Tự hào và sung sướng cho dân tộc ta biết chừng nào!
Đã lâu không làm bài thơ nào…
Đã lâu Bác không làm thơ nữa. Nhưng lòng ta mỗi mùa xuân, lại nhớ tiếng Người. Bài này Bác không viết vào Tết, mà ở giữa Xuân, tháng ba năm 1968. Hôm nay tự dưng sao tôi thiết tha muốn đọc to bài thơ ấy:
Đã lâu không làm bài thơ nào
Nay lại thử làm xem ra sao,
Lục khắp giấy tờ vần chửa thấy,
Bỗng nghe vần “thắng” vút lên cao…
Vần thắng vút lên cao đầu năm 75, ở Ban Mê Thuật vút lên tại thành phố Sài Gòn, vút lên trên cả đất nước Việt Nam thống nhất, vần thắng ấy là bài thơ muôn đời Bác để lại cho ta.
- Lê Hoàng: Tôi không kỳ vọng điện ảnh VN chuyển biến sau LHP
- Báo giới và nghệ sĩ cùng "ngơ ngác"
- Cuộc gặp gỡ “sao” Việt: Nhạt và gượng
- Thăng hoa võ cổ truyền Việt Nam
- TRƯỜNG SƠN TRONG CẶP VẼ
- Văn miếu đầu tiên ở Nam bộ
- Hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Lý Công Uẩn với điều kiện hình thành nhân cách và sự nghiệp
- Đại học điện lực với nguồn sáng Thủ đô
- NGUYỄN TẤT THÀNH Ở BÌNH ĐỊNH – MỘT SỰ KIỆN LỊCH SỬ RẤT ĐÁNG QUAN TÂM
- Tinh thần Phật giáo trong sân khấu dân tộc và một số nước Đông Nam Á




















