Trước cách mạng tháng Tám, cụ Trúc Tôn Phạm Phú Tiết vốn là một ông quan cỡ bự: Bình Phú Tổng đốc, vị Tổng đốc của hai tỉnh Bình Định và Phú Yên.
Đã vậy, ông còn là một con người quan trọng trong thời khắc quan trọng của đất nước, một nhân chứng lịch sử những ngày đầu Cách mạng tháng Tám ở khu vực Nam Trung bộ, chính ông là người thay mặt Nam triều bàn giao chính quyền nửa phong kiến nửa thực dân về tay nhân dân cho Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh Bình Định, một cuộc bàn giao êm ấm, không tốn xương máu, bởi trước bàn giao một ngày bọn hiến binh Nhật ở Quy Nhơn còn mò đến dinh Tổng đốc gợi ý với ông rằng: Nều chống lại Cách mạng thì chúng sẽ cung cấp vũ khí, quân đội và phương tiện chiến tranh khác. Ông trả lời: Đây là công việc nội bộ của người Việt Nam, mong người Nhật đừng dài tay. Chính vì lẽ đó mà sau Cách mạng tháng Tám thành công ông được phong hàm đại tá, giữ chức Chánh án Toà án quân sự Liên khu V, kiêm nhiệm Chánh án Hội đồng phúc án Toà dân sự Liên khu V. Thuở còn trai trẻ tôi thường dự nghe giọng nói của Chánh án Phạm Phú Tiết nghiêm nghị vang động như hát Bội, lại từng được xem diễn viên Phạm Phú Tiết đóng vai Cát Ty Vương trong vở tuồng Đông Lộ Địch của Ưng Bình Thúc Dã Thị trong một dịp “hát cứu tế”, giọng hát của vua Cát Ty nghe cũng sang sảng, âm điệu dìu dặt không khác giọng tuyên án của Chánh án Tòa quân sự là mấy.
Thế rồi, trời xui đất khiến, khi tập kết ra Bắc tôi lại có cơ hội cùng công tác với Phạm tiên sinh khá nhiều năm ở Ban nghiên cứu Tuồng và Khu văn công Cầu Giấy đến khu văn công Mai Dịch. Những gì cụ đọc sách báo Trung văn thấy có điều nghi vấn. Mãi đến cuối năm 1966 kết thúc bảy năm học ở Bắc Kinh, tôi về nước lại tiếp tục công tác bên cạnh cụ tại nơi sơ tán vùng Chợ Đậu, Thôn Lạc Đạo, Xã Trung Kiên (tỉnh Hưng Yên), tức cái nơi mà người dân địa phương từng có ca dao rằng: “Chừng nào hết rượu Trung Kiên, hết chó Lạc Đạo, hết tiền văn công”. Đang sống và làm việc ngon lành, giữa chừng Bộ Văn hóa điều tôi về Hà Nội phụ trách thư viện Viện nghiên cứu sân khấu (Hồi đó làm việc cạnh Nhà hát Nhân dân, bây giờ thành Cung văn hóa hữu nghị Việt – Xô). Từ ấy hai chúng tôi mới tách khỏi nhau. Trước khi chia tay cụ thổ lộ khá nhiều tâm sự: “Tình hình hiện nay in ấn rất khó khăn, tôi nhờ anh giữ hộ các bản thảo này đem về Viện sân khấu đánh máy làm nhiều bản, gửi nhiều nơi, đề phòng thất lạc, nước mình đang chiến tranh mà…” rồi cụ trao cho tôi bốn bản viết tay chú giải bốn vở tuồng của Đào Tấn, gồm: Hộ sinh đàn, Trầm Hương các, Diễn võ đình, Cổ Thành, và tập bản thảo viết tay khảo cứu về lịch sử sân khấu hát Bội Việt Nam mang tên “Chầu đôi”. Đối với tôi, khối lượng tài liệu này là một kho báu không gì so sánh, bởi ngoài cụ Phạm Phú Tiết ra, trên đất nước ta hồi đó cũng như bây giờ, tôi quả quyết: Không ai làm được như vậy.
Xin cử vài ví dụ để bạn đọc thấy hết giá trị cống hiến của tác giả:
Trong tuồng hộ sinh đàn, Đào công viết: “Xin lương nhân cạn chén tẩy trần, mượn hoan bá ngăn hàng khổ lụy”. Đây là lời tuồng của nhân vật Trần Thị Lan Anh nói với chồng lúc nàng tìm kiếm cứu được Tiết Cương đưa về sơn trại. “ Lương nhân” là từ ngữ vợ gọi yêu chồng, với hàm nghĩa vừa là chồng và cũng vừa là người bạn chiến đấu với mình, một con người hiền lành. Nhưng chữ “hoan bá” ở vế dưới “mượn hoan bá ngăn hàng khổ lụy (giọt nước mắt đau thương)? Phạm tiên sinh đem nghi vấn này trao đổi với hầu hết bậc túc nho của Hà thành hồi đó đều bó tay, tra cứu đủ sách vẫn không giải được. Cho đến năm 1963 tôi về nước nghỉ hè, vừa gặp lại nhau cụ khoe với tôi một cách không cần giữ ý: “chữ hoan bá” trong tuồng Hộ sinh đàn tôi đã giải được rồi. “Hoan bá”là chữ riêng của cụ Đào Tấn dùng đề đối cho xứng với chữ “lương nhân” ở vế trước, chứ không thuộc điển tích nào cả. “Hoan bá” nghĩa là bác vui, là rượu, bác này vui lắm! Bác này có thể ngăn được khổ đau. Vả lại chữ “lương nhân” ở trên có thuộc điển tích nào đâu mà chúng ta lại chăm bẳm vào việc tìm điển tích của chữ “hoan bá”? “riêng mỗi một điều này thôi đã làm cho cụ Phạm mất ăn mất ngủ dễ đến gần bốn năm trời( 1959 – 1963).
Ví dụ thứ hai: Cũng ở tuồng Hộ sinh đàn, lời hát của nhân vật Hồ Nô rằng: - Kìa ai ngựa thiếp đen vàng
- Núy quan bắt chén (thương hại thương xót) giải phiền làm khuây…
“ Núy quan” nghĩa là gì? “Núy quan bắt chén” có phải là uống rượu nơi cửa ải mang tên là “Núy” không ? Nếu đúng thì nơi ấy ở đâu? Chi tiết này trong kịch bản Hán Nôm chỉ ghi: Hồ Nô hát lý…” chứ không có lời tuồng. Trong bản phiên âm quốc ngữ của bà Trúc Tiên con gái cụ Đào lại có lời tuồng hát lý của nhân vật Hồ Nô. Đã có lời tuồng thì phải chú giải, không chú giải được Phạm tiên sinh đành hạ bút vào số chú giải 445 bản viết tay rằng: “Câu này không hiểu, ai hiểu xin bày cho tôi”. Lúc in sách tôi phải biên tập câu chú giải ấy ra số 387, trang 367, tập II - Tuồng Đào Tấn rằng: ‘Núy quan: không rõ nghĩa chờ tra cứu”. Vậy là toàn bộ công trình chú giải tuồng Đào Tấn của Phạm tiên sinh còn đọng lại chỉ mỗi câu này cụ chào thua.
Dung lượng vở tuồng Hộ sinh đàn không đầy 80 trang in mà Phạm tiên sinh phải làm đến 468 chú giải. Các vở khác cụ cũng chu đáo, cẩn trọng tương tự. Đủ thấy thái độ lao động khoa học của Phạm tiên sinh một con người đầy trách nhiệm với bạn đọc, với hậu thế, cho nên lúc nhận lãnh bộ phận tài liệu này, tôi có thưa hai điều:
1- Riêng tập bản thảo sách “Châu Đôi” tôi sẽ cho đánh máy ngay và sẽ nhờ cụ xem lại, đính chính những sai sót rổi gửi bản gốc (viết tay) lại cho cụ, không biết bây giờ gia đình anh Phạm Phú Bằng có giữ được bản đấy không? Tôi chỉ xin cụ cho giữ bản gốc bài tựa viết tay “Châu Đôi” để sau này có điều kiện in ấn thì sử dụng. Còn tên tập sách là “Châu Đôi” người trong nghề hát Bội nghe sẽ rất thú vị, người ngoài nghề thì không dễ hiểu nên xin gọi là “Hội thoại về vấn đề lịch sử sân khấu hát Bội”. Cụ Phạm gật đầu trong tiếc nuối
2- Xin cụ cho phép tôi được giữ bốn tập chú giải tuồng Đào Tấn chép tay, vì sau này nếu có điều kiện in ấn ắt phái có sự biên tập chứ không thể in nguyên như bản viết. Thời gian nào có điều kiện in thì không ai nói trước được. Khi có điều kiện in mà không có bản gốc bên cạnh thì sự sai sót trong khâu in sẽ xảy ra là điều chắc chắn.
Để có được hai công trình nói trên Phạm tiên sinh đã phải lao động cật lực, vượt bao vất vả. Hàng ngày xách cà – mèn cơm lên tàu điện từ Cầu Giấy đến trạm Cửa Nam, đi bộ rẽ sang đường Tràng Thi đến thư viện quốc gia đọc sách, rồi ăn cơm trưa nghỉ lại ở đấy chiều đọc tiếp, gần tối thì về…Ngày nào cũng thế mười mấy năm ròng…
Phạm tiên sinh là một cán bộ nghiên cứu của Ban nghiên cứu Tuồng thực thụ, nhưng lại không hưởng lương nghiên cứu của Nhà hát Tuồng cấp. Nhà hát chỉ có trách nhiệm chăm lo chỗ ở và việc ăn uống hàng ngày, Mặt trận tổ quốc Trung ương mới là cơ quan chủ quản cấp lương và thực hiện các chế độ chính sách khác. Do vì cụ đi tập kết ra Bắc với tư cách là một nhân sĩ; còn sống và làm việc cùng lũ nghệ sĩ quèn chúng tôi là do cụ tự nguyện. Chẳng là lúc ấy ở Mặt trận Tổ quốc công việc quá ít, ngoài việc đi dạy chữ Hán ở Viện Văn học cùng các cụ Cao Xuân Huy, Lê Thước…thì giờ trống quá nhiều mà cụ là con người năng động nên đã phải giải quyết mâu thuẫn ấy bằng cách được sống và làm v iệc với chúng tôi, vui đáo để. Nhớ lại hồi còn ở khu văn công Cầu Giấy, tôi ở dãy nhà lá phía ngoài, cụ ở dãy nhà lá phía trong. Sáng hôm ấy tôi đột nhập vào phòng cụ kiếm chén trà Thanh Hương. Cụ đang cặm cụi viết chữ Hán cho tập thơ Ngục trung nhật ký của Hồ Chủ Tịch chuẩn bị xuất bản lần đầu. Thấy tôi, cụ dừng tay, chế trà, quả là gói Thanh Hương một lạng, loại trà phân phối cho cán bộ cao cấp, bọn chúng tôi thỉnh thoảng mới được ơn mưa móc, nhưng “sao chẳng nghe mùi lai gì cả” – tôi chê.
- Ông sang đây là để uống tôi chớ uống chi trà của tôi mà khen với chê - cụ cười.
Thì ra hàng ngày Phạm tiên sinh chỉ uống nước sôi để nguội, trà để dành đãi khách, để lâu quá mùi lại không còn, chất cũng biến. Tuy nhiên tôi không thất vọng ra về, nhìn các bản chữ Hán cụ viết cho Ngục trung nhật ký xếp đầy bàn hay quá! Đẹp quá!
Học giả Trúc Tôn Phạm Phú Tiết là cháu nội của Song nguyên Hoàng giáp Phạm Phú Thứ, quê xã Đông Ba, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Theo Quốc Triều Hương Khoa Lục mà suy thì cụ sinh năm Giám Ngọ 1894 hoặc năm Ất Mùi 1895 tức Thành Thái thứ 6 hoặc thứ 7. Vì cụ đỗ Cử nhân năm 24 tuổi, khoa Mậu Ngọ (1918), tức năm Khải Định thứ 3. Trước khi đậu Cử nhân là trợ giáo, sau khi đậu cử nhân phải học Hậu bổ đường một thời gian mới được bổ nhiệm làm quan.
Tạ thế ngày 7 tháng 6 năm 1981 tại thành phố Hồ Chí Minh. Theo thông tin từ gia đình thì năm cụ tạ thế đúng 90 tuổi. Nhưng nếu tính theo ghi chép trong Quốc Triều Hương Khoa Lục thì mới 86 tuổi. Có sự chênh lệnh đến bốn tuổi chưa rõ vì sao?
Tác phẩm của Trúc Tôn Phạm Phú Tiết để lại cho đời không nhiều nhưng độc đáo. Rất độc đáo là khác.
Nhìn vào danh mục liệt kê sách tham khảo mà cụ Phạm đã đọc để viết nên sách này là 146 đầu sách, có nhiều loại sách không dễ đọc, không dễ hiểu. Nếu tôi không lầm thì những thư tịch cổ liên quan đến nền nghệ thuật sân khấu (kịch) của đất nước cụ đã lục lọi hầu hết, điều này đã và sẽ giúp cho lớp hậu bối (trong đó có tôi) bớt một gánh nặng oằn vai kiếm tìm tài liệu nếu muốn viết một bộ lịch sử nghệ thuật sân khấu hát Bội một cách hoàn chỉnh
Thứ đến là “Châu Đôi” của Phạm tiên sinh đã mở toang một cách cửa bị đóng kín của nhiều thế kỷ để bước vào một ngôi đền đồ sộ tiến hành thăm dò, khám phá, xới tung vấn đề lên, vấn đề mà người lớp trước chỉ đôi lần lách qua lạng lại, xới lên rồi bỏ đó, hoặc xới lên rồi bít lại. Lần này cụ Phạm chỉ tập trung khám phá hai tụ điểm: Thuyết Lý Nguyên Cát và thuyết Đào Duy Từ. Cố gắng giải thích vấn đề nguồn gốc và quá trình phát triển trong chừng mực nhất định. Tuy nhiên, tôi hy vọng chức năng cao nhất của “Chầu Đôi” sẽ là sự tiếp sức các thế hệ học giả trẻ rút ngắn được chặng đường mò mẫm của mình, thế đủ gọi là của quý rồi.
- TRĂM NĂM VỤ ÁN MẠC TU HỮU
- Đi tìm dấu tích Cung điện Đan Dương, sơn lăng của vua Quang Trung
- Phan Văn Trị - Bút chiến bằng sức mạnh lòng dân
- Nhạc sỹ Văn Ký - Người chắp cánh những bài ca hy vọng
- Tiến sĩ - Nghệ sĩ Bạch Tuyết
- “ HỒ CHÍ MINH ĐÃ TRỞ THÀNH MỘT NHÂN VẬT HUYỀN THOẠI TRONG THẾ KỶ 20”
- Lê Thanh Bình: Cung đàn thơ, cung đàn tình
- ẤN TƯỢNG NHÀ THƠ TẾ HANH
- Xuân Diệu đến Đèo Cả để gặp bài thơ Đèo Cả của Hữu Loan
- GS.VS. VŨ TUYÊN HOÀNG NHÀ KHOA HỌC CỦA NÔNG DÂN





















