Thu23022012

Back Đời sống Đời sống quanh ta Làng Việt Làng Kim Bài

Làng Kim Bài

Kim Bài, một làng ven sông - dẫu bây giờ dòng sòng Đáy lui cách xa làng chừng một ki lô mét nhưng thuở xa xưa dòng sông Đáy đã lượn cạnh làng. Truyền thuyết kể rằng vào năm mưa lũ lụt nào đó dòng sòng Đáy bất chợt đổi dòng cắt hẳn làng Vạc (Hoạch An) vốn trước ở bên kia sông, sang hẳn bên này sông. Dấu tích của con sông Đáy cổ vẫn chưa kịp bồi lấp là dẫy dài những ao hồ ven làng. Con đường Bến một thời là bến đò luân phiên người qua lại nay là tên gọi kỷ niệm cho một con đường của làng quê.

Giờ đây Kim Bài là một làng của thị trấn cùng tên gồm ba thôn: Cát Động, Kim Bài, Kim Lâm, nằm cạnh trục đường 21b nối thị xã Hà Đông với các huyện nội tỉnh và các tỉnh tiếp giáp nằm ở phía nam thủ phủ tỉnh Hà Tây cũ.

Thị trấn đang trong quá trình chuyển mình đô thị hoá, nhưng vì là huyện thuần nông nên dáng vẻ phố huyện Thanh Oai chỉ hiện diện thưa thớt quán xá ở những hộ thương nghiệp bám hai mặt đường quốc lộ. Lùi sâu đường một chút thôi là làng Kim Bài, điển hình cho một làng nông nghiệp, cư dân sống chủ yếu bằng nghề nông.

Ấn tượng đầu tiên khi bước chân vào làng ấy là con đường. Con đường chính trải nhựa chạy qua làng xoá đi hình ảnh con đường đất lầy lội chi chít vết chân trâu ở một số làng quê. Làng Kim Bài êm ả những rặng tre, khang trang và sạch sẽ mỗi ngôi nhà, bặt không thấy những công trình vệ sinh gia đình làm lộn xộn đập vào mắt khách.

Trước năm 1945, làng khoảng 200 nóc nhà thế mà ruộng có tới 400 mẫu thuộc diện làng có số ruộng bình quân đầu hộ cao so với các làng khác trong huyện. Do vậy người dân Kim Bài hàng bao thế kỷ nay vẫn thuần thục một nghề làm ruộng mong sao thóc đầy bồ, lợn gà đầy chuồng. Lúc nông nhàn con gái Kim Bài không buôn ngược bán xuôi mà chú trọng thêm nghề canh cửi, chăn tằm dệt vải, số nữa chạy hàng xay, hàng xáo biến hạt thóc thành hạt gạo đem bán các chợ quê.

Ruộng đất nhiều lại vào hạng đẳng điền, trồng cấy được cả hai vụ là thế mạnh của người dân Kim Bài tạo nên thế ổn định, chắc chắn theo quan niệm "Nông vi bản".

Làm nông nghiệp yếu tố đầu tiên là nước. Dân ta đã đúc kết "Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống". Ngày xưa hệ thống mương máng dẫn thuỷ nhập điền chưa phát triển, nghề trồng lúa nước phụ thuộc chủ yếu vào nước mưa. Có phải vì điều đó mà đến Kim Bài tôi bất ngờ gặp ở nơi đây một tín ngưỡng cổ xưa thờ thuỷ thần.

Trên một bãi đất đẹp nằm cạnh hồ sen nơi ấy xưa có đền Tổng, đền thờ hai vị Thuỷ thần, tên là Thiên Quan và Ngũ Lôi. Dân chúng trong vùng lưu truyền câu chuyện sau về hai vị thuỷ thần trên.

"Xưa kia ở làng Đại Từ, xã Lam Điền, huyện Chương Mĩ (xã bên kia sông Đáy cách Kim Bài 7km) có một chàng trai nghèo rời làng đi đánh dậm kiếm ăn. Chàng đến làng Kim Bài và bén duyên với một cô gái làng Cát Động cũng nghèo khổ như chàng. Hai bên làm nhà trên một bãi đất cạnh hồ lớn. Thường ngày họ đi ra hồ đánh dậm kiếm cá tôm. Họ đến bên một gốc cây to bẻ cây que làm lán, lấy lá sen làm mái lợp và nghỉ trưa ở đó.

Một hôm ông đi đánh dậm ở hồ, lần đầu nhấc dậm thì thấy hai quả trứng. Nghĩ rằng trứng của loài thuỷ tộc cũng chẳng ăn được nên ông liền nhặt vứt xuống hồ. Lần sau nhấc dậm ông lại thấy hai quả trứng lọt vào. Thấy lạ ông nhặt cho hai quả trứng vào giỏ, về nhà kể chuyện đó để người vợ biết.

Bà bèn cho hai quả trứng vào cối giã gạo. Con gà mái mơ trông thấy bay tới ấp ít ngày sau trứng nở lòng cối đọng tí nước, dưới đó có hai con rắn nhỏ ngo ngoe. Từ đấy, vợ chồng ông chăm chút đôi rắn như con vật quý trong nhà. Đôi rắn quẩn quanh ông bà trong bữa ăn và cả lúc đi làm.

Một ngày kia ông có việc sang ăn cỗ nhà hàng xóm, cho đôi rắn lên vai mang đi. Đến đó, ông để đôi rắn ở cổng và đi vào nhà. Chó của nhà chủ xổ ra cắn đôi rắn, một con leo nhanh lên nóc cổng, còn con kia chui vào áo cối xay lúa cái đuôi thò ra thì bị chó cắn cụt mấy đốt. Ông bỏ dở bữa cỗ mang con rắn bị thương về nhà cùng bà chăm sóc.

Từ đó, dân làng gọi đôi rắn trên là ông Cộc, ông Dài. Đôi rắn mỗi ngày một lớn kiếm cá tôm về nuôi ông bà.

Một năm nọ, trời làm đại hạn, ruộng đất trong vùng khô nẻ, cây cối khô héo, dịch bệnh phát sinh. Dân làng vô cùng lo sợ cầu khẩn các vị thần linh cứu giúp con người.

Thấy cảnh dân làng mùa màng bị thất bát, bệnh tật hoành hành, đói khổ như vậy, ông bà vô cùng thương tâm liền gọi đôi rắn nói với chúng:

- Bố mẹ biết các con là loài thuỷ tộc, nay dân làng ta gặp cảnh đại hạn, lòng người cầu khẩn chẳng tới được vua thuỷ tề, bố mẹ mong hai con đi gặp vua thuỷ tề có lời nói giúp để vua ban nước cho dân làng ta thoát nạn. Được như vậy dân làng đội ơn các con suốt đời.

Nghe vậy, đôi rắn ròng ròng hàng lệ cáo biệt bố mẹ ra đi. Quả nhiên, hai ngày sau giông tố ầm ầm kéo đến. Mưa như trút nước. Sông, đầm, ao, hồ đồng áng đầy những nước. Cây cối hồi sinh tươi tốt. Lòng người hể hả.

Cũng từ đó đôi rắn đi không trở về. Dân làng tổng Phương Trung huyện Thanh Oai chịu ơn lập miếu thờ đôi rắn.

Vài năm sau, bố nuôi đôi rắn ngã bệnh mất. Dân làng chôn cất ông chu đáo ở bãi đất cạnh sông thuộc làng Kim Chu và trồng hai cây móc có chùm quả như hàng lệ rỏ tỏ lòng thương xót ông. Mồ yên mả đẹp vừa xong thì đêm đó trời đổ mưa to, gió lớn, sấm chớp ầm ầm, dân làng nghe như có hàng vạn bước chân người qua lại. Sáng ra mộ bố nuôi đôi rắn không cánh mà bay chỉ còn lại dấu tích một giếng nước gọi là giếng đền Đàn. Sáng ấy dân làng Đại Từ bỡ ngỡ thấy hiện ra ở khu đất đẹp cạnh làng ngôi mộ ông đánh dậm còn nguyên cả hai cây móc. Dân làng Cát Động, Kim Bài lên xem mọi người đều bảo rằng đó chính là ngôi mộ dân làng đã chôn cất ông hôm trước. Chắc là đôi rắn chuyển mộ bố nuôi về an táng ở quê cha đất tổ. Từ đó, dân làng Đại Từ giữ gìn lăng mộ, xây đền thờ hai vị thuỷ thần và bố mẹ nuôi của chúng. Bà mẹ nuôi đôi rắn, sau khi chết mộ táng ở vườn nhà cũ, nay là đền Hồ, tục gọi đền Thượng. Vào ngày kỵ giỗ bà, hai cụ từ, một của làng Cát Động, một của làng Kim Bài túc trực hành lễ việc tín ngưỡng của dân địa phương."

Từ đấy, hễ năm nào đại hạn dân làng Kim Bài và dân làng tổng Phương Trung lại tổ chức cầu đảo vũ tại đền Tổng ở làng Kim Bài, mở cửa đền Hồ, làm nhà lều ở gốc cây gạo bãi Đàn bên giếng Đền cạnh đầm sen nơi năm xưa ông bà đánh bắt được hai quả trứng, lấy lá sen lợp mái, lại đem chiêng đồng ra đánh thỉnh gọi hai vị thuỷ thần giúp dân. Dân làng còn tổ chức rước kiệu trên đặt hình nộm rồng và phù giá kiệu có hai người họ Hồ đeo mặt nạ đi giật lùi trước kiệu làm trò vui. Theo sau là gánh hát họ Hồ đủ cả đào và kép hát Ca trù dẫn kiệu, lại tổ chức kéo thuyền rồng từ Kim Bài ngược sông Đáy lên đền - đình Đại Từ. Các cụ mở cửa đền - đình rước ngai hai vị thuỷ thần ra đặt ngoài trời tế lễ cầu mưa.

Truyền rằng, sau những việc làm trên thường là có sự linh ứng trời đổ mưa to. Mưa đâu thì mưa, nhất thiết phải mưa đền ơn cha mẹ ở Đại Từ - Cát Động - Kim Bài.

Ca dao cổ có câu:

Mưa từ trong núi mưa ra

Mưa khắp thiên hạ mưa qua Đại Từ.

Người dân Kim Bài có tục kiêng gọi tên Cộc kỵ huý thuỷ thần, thay bằng từ Bường. Như không gọi cây tre cộc mà gọi là cây tre Bường.

Hiện diện của tín ngưỡng thờ thuỷ thần, những dấu tích còn sót lại và ký ức về diễn xướng đảo vũ cầu mưa ở làng Kim Bài là bằng cớ chứng minh sự xuất hiện rất sớm của cư dân Hùng Vương bên tả ngạn sông Đáy trong quá trình họ từ núi xuống chiếm lĩnh khai phá đồng bằng và mối quan hệ giữa các cư dân tả hữu ngạn sông Đáy.

Trở lại làng Kim Bài du khách đến thăm ngôi đình của làng. Xưa kia đình của làng Kim Bài còn nhỏ, mọi công việc của làng diễn ra ở đền Tổng và đền Tứ Giáp, đến năm 1925 thì mới làm đình như hiện nay. Đình Kim Bài kiến trúc kiểu chữ đinh, cửa trông phía đông, lúc bấy giờ trước đình có hồ nước. Đình Kim Bài chính vị thờ thành hoàng là Đông Hải đại vương Nguyễn Phục. Theo sách Di tích lịch sử văn hoá Việt Nam, NXB khoa học xã hội - Hà Nội, 1991 thì "Nguyễn Phục người huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, nay là huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Hưng, đỗ Hoàng giáp niên hiệu Thái Hoà 2 (1453) thời Lê Nhân Tông, làm quan đến chức Hàn Lâm viện kiêm chức Sư phó dạy học cho các thân vương (hoàng tử), tháng 4 năm Quang Thuận thứ 8 (1467) được bổ chức Tham chính sứ xứ Thanh Hoá. Khi Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, ông được giao việc đốc vận quân lương, vì gặp bão, chậm trễ kỳ hạn nên bị xử tội theo quân pháp. Sau vua biết ông bị oan, truy phong làm phúc thần."

Sau cái chết oan khuất của Nguyễn Phục dân chúng dọc bờ biển từ Thanh Hoá đến Quảng Nam nhiều nơi lập đền thờ tôn phong ông là vị phúc thần ở biển Đông.

Tương truyền Nguyễn Phục còn là thuỷ tổ của nghề kén tằm. Nhiều làng quê ven các con sông lớn: sông Đáy, sông Nhuệ của tỉnh Hà Tây có nghề tằm tơ, canh cửi phát triển đã tôn vinh ông làm thành hoàng của làng.

Giờ đây nghề trồng dâu nuôi tằm dệt vải ở Kim Bài đã bị mai một. Nhưng trong ký ức của người làng vẫn truyền lại cho con cháu cái thuở làng Kim Bài có những nương dâu xanh ngắt bên bãi bồi sông Đáy, đêm đêm đi trong các ngõ của làng đều rộn lên tiếng lách cách thoi đưa, bóng người con gái Kim Bài cần mẫn bên khung cửi khéo léo đôi tay bên nồi tơ nong kén.

Hội làng tổ chức lớn diễn ra tại đình từ ngày 11/2 đến 15/2 (âm lịch) dân làng tổ chức hát trống quân trên bờ, múa rối nước dưới ao trước cửa đình, không khí sôi động suốt mấy ngày liền.

Là một làng nông nghiệp nên cỗ dâng lên vị thành hoàng làng cũng thật độc đáo. Làng có 6 giáp, mỗi giáp phải chuẩn bị một cỗ bánh dầy. Bánh dầy to, cỡ bằng cái mâm, trên mặt dán chữ thọ, cắt từ giấy hồng điều. Dâng bánh tế lễ xong các giáp thi nhau xem bánh dầy của giáp nào khéo tay cắt đẹp chữ thọ, mặt bánh khôn mầu và miếng bánh dẻo, thơm, ngon. Bánh dầy của giáp nào được các cụ bô lão chấm nhất thì các hộ của giáp rất phấn khởi rước bánh về mừng cho rằng năm đó giáp làm ăn tấn tới, con gái của giáp đắt chồng.

Kể ra tâm niệm như thế cũng phải, bởi lẽ miếng bánh dầy có ngon miệng, đẹp mắt hay không chủ yếu phụ thuộc vào sự tinh mắt, khéo tay cua người con gái.

Con gái 1àng Kim Bài còn thuần thục cách làm bánh đúc. Làng có tục cỗ bàn, giỗ tết, cưới vợ, gả chồng, làm nhà, mừng thọ ... Có to đến mấy ấy mà thiếu đĩa bánh đúc cũng coi như cỗ thường.

Bánh đúc Kim Bài ngon có tiếng trong vùng, ai đã thưởng thức miếng bánh một lần ắt còn nhớ đời.

Kỹ thuật làm bánh tưởng chừng đơn giản nhưng lại là bí quyết của người con gái làng Kim Bài. Này nhé, gạo tẻ chọn cho đều hạt, ngâm nước một ngày cho hạt mẩy căng tròn thì mang ra hong khô mặt, sau đó đem xay cối đá lẫn với nước vôi trong. Nước vôi trong nồng độ vừa phải để khi ăn không nồng mùi. Nồi đun bánh phải tráng một lượt mỡ để không dính nồi, cho nước bột xay vào nồi đun quấy đều, thêm một tí hàn the cho bánh cứng. Nếu chủ định làm bánh đúc ăn với riêu cua thì là loại bánh thuần gạo, còn nếu định làm bánh đúc chấm mắm tôm thì trộn thêm lạc rang, cùi dừa. Bánh đúc quấy chín trong nồi, đổ tràn trên mặt lá chuối láng mỡ đặt vào khuôn nong hoặc sàng dàn đều, độ dầy khoang 4-5 cm.

Khi thái bánh đúc đòi hỏi phải kỹ thuật. Dao thái mỏng mình vừa bản. Người thái khéo léo lượn lưỡi dao làm sao để miếng bánh lượn thành hình sóng.

Ăn bánh đúc đặc chan riêu cua dấm mẻ thật đắc vị. Còn ăn bánh đúc có nhân lạc, cùi dừa thì phải chấm mắm tôm đồng pha chanh ớt. Ăn theo kiểu "Bánh đúc bẻ ba, mắm tôm quệt ngược" mới thật đậm đà tinh tuý hồn quê của một làng thuần nông ở đất Hà Tây.

Lạ thay chính ở làng quê thuần nông ấy tưởng chừng con người chỉ biết cần mẫn lao động “Trên đồng cạn dưới đồng sâu, chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa", thế mà Kim Bài lại nổi tiếng xưa nay về truyền thống hiếu học.

Dưới thời phong kiến, từ khi nhà nước mở khoa thi chọn nhân tài đầu tiên năm 1075 triều Lý đến kỳ thi Nho cuối cùng khoa Kỷ Mùi, năm Khải Định 4 (1919), con đường cử nghiệp đỗ đạt để làm quan, giúp nước, giúp đời, làm vẻ vang dòng họ và cá nhân là sự đam mê, hối thúc, mục đích tiến thân của sĩ tử. Hình ảnh các ông Nghè (Tiến sĩ), xướng danh ở sân vua, nêu tên trên bảng vàng, khắc vào bia đá ở Quốc Tử Giám, được triều đình trọng vọng, chính quyền thôn xã nghênh đón, dân làng kính nể, là ước nguyện của bao gia đình. Do vậy ở làng có một người đỗ tiến sĩ đã là vinh dự nắm, vậy mà làng Kìm Bài có 5 vị đỗ tiến sĩ, số cống sinh (cử nhân), sinh đồ (tú tài) hàng chục vị.

Người khai đại khoa cho sự học của làng là hai anh em ruột họ Nguyễn. Anh là Nguyền Tuệ, em là Nguyễn Huyễn. Hai anh em cùng đỗ khoa thi Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận 3 (1511) đời Lê Tương Dực. Sau đó, Nguyễn Tuệ tham gia triều đình nhà Mạc giữ chức Thượng thư, tước Bá. Theo gương cha 24 năm sau con ông là Nguyễn Uyên thi đỗ tiến sĩ khoa Ất Mùi, hiệu Đại Chính 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh làm quan đến chức Hàn lâm và đã từng đi sứ sang nhà Minh.

Cũng ở thời Mạc, làng Kim Bài có Nguyễn Hoàng, 38 tuổi, đỗ Hoàng giáp khoa Tân Mùi, niên hiệu Sùng Khang 6 (/57/) đời Mạc Mậu Hợp. Về sau, ông theo giúp nhà Lê giữ chức Hình bộ Hữu thị lang, tước Bá.

Tiếc rằng nhà Mạc bị nhà Lê coi là ngụy triều nên những tư liệu viết về sự nghiệp của các vị tiến sĩ thời Mạc của làng Kim Bài bị thất tán. Sang thế kỷ 17 các vị tiến sĩ tham gia triều chính nhà Mạc là một trở ngại lớn cho sự học về sau của con cháu. Nhiều làng có người liên lụy đến nhà Mạc đã bị triều đình vua Lê, chúa Trịnh cấm thi, như làng La Cả xã Dương Nội (Hoài Đức) ...

Bất luận vì lý do gì người Kim Bài vẫn không xao nhãng đèn sách, hơn thế kỷ sau, Nguyễn Huy Thục dự khoa thi Kỷ Mùi, đỗ tiến sĩ niên hiệu Vĩnh Hựu 5 (1739) đời Lê Ý Tông, làm quan đến Giám sát ngự sử, đã ngời sáng truyền thống hiếu học của làng.

Thời Nguyễn tuy không có người đỗ Đại khoa (tiến sĩ) nhưng ở làng sĩ tử đỗ Trung khoa (cử nhân), Tiểu khoa (tú tài) thì khá nhiều. Điển hình trong số đó có cụ Nguyễn Bá Tiệp đỗ cử nhân, từng làm tổng đốc Thái Bình. Chính cụ đã đề xuất việc mở một trường công xây dựng tại Kim Bài để thu hút con em địa phương tới học.

Quan niệm của người xưa ở một làng quê nào đó mà hội đủ "Tam Thanh" (tiếng sĩ tử ngâm thơ đọc sách, tiếng lánh cách khung cửi dệt vải, tiếng trẻ con bi bô học bài) thì làng ấy thật là yên ấm. Làng Kim Bài xưa cũng vậy, nay cũng thế hội đủ cái Tam Thanh ấy.

Những yếu tố truyền thống nêu trên về làng Kim Bài là di sản quí giá trong hành trang của người Kim Bài hôm nay xây dựng cuộc sông mới.

Kim Bài là một trong hai làng tiêu biểu của huyện Thanh Oai trong phong trào xây dựng làng văn hoá.

Từ ngày xây dựng làng văn hoá, dân làng đã khôi phục lại tục kết nghĩa “Quan anh, quan em" giữa hai làng Kim Bài và làng Đại Từ, huyện Chương Mĩ. Vào ngày hội của hai làng các cụ trong Ban khánh tiết thông báo cho nhau biết để đại diện của làng sang có lời mừng cho nhau. Lệ tục qui định, hễ 5 năm, dân hai làng lại tổ chức một lần đón quan anh của nhau sang vui hội. Ngày nay, các cụ đón tiếp nhau long trọng gọi nhau là quan anh tự xưng mình là quan em. Khẩu hiệu ở cổng làng giương cao dòng chữ "Tình huyết thống đời đời bền vững” .

Đến với làng Kim Bài gặp từ cụ già đến các em trẻ ở làng du khách đều cảm nhận thấy một điều, ở làng quê này đã hình thành một nếp sống trật tự, kỷ cương, ngăn nắp và mọi người đều nỗ lực hướng đến những điều tốt đẹp.

Du khách tìm thấy những trầm tích văn hoá, những tình cảm tốt đẹp của con người vì con người ở làng quê Kim Bài yêu dấu này và hiểu đầy đủ hơn về một câu tục ngữ "Gái Kim Bài, trai Kẻ Vác". /.